Tiếp nối việc hướng dẫn phân tích truyện ngắn, hôm nay chúng tôi sẽ hướng dẫn các em học sinh phân tích tác phẩm Rừng Xà Nu, đây cũng là một bài Văn thường xuất


Tiếp nối việc hướng dẫn phân tích truyện ngắn, hôm nay chúng tôi sẽ hướng dẫn các em học sinh phân tích tác phẩm Rừng Xà Nu, đây cũng là một bài Văn thường xuất hiện trong đề thi THPT Quốc Gia và Đại học.

Bạn đang xem: Rừng xà nu

PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮNRỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH

*

Phần I. Hướng dẫn viết mở bài phân tích truyện ngắn Rừng Xà Nu

I. Tìm hiểu chung về tác phẩm Rừng Xà Nu

1. Tác giả Nguyễn Trung Thành

- Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) gắn bó nhiều với Tây Nguyên nên hiểu sâu sắc cảnh vật và con người nơi đây.

- Nguyễn Trung Thành là người đầu tiên và là người đóng góp nhiều nhất trong việc đưa văn chương hiện đại tìm đến Tây Nguyên và đem Tây Nguyên về với văn chương hiện đại.

- Văn chương Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành đạt tới tầm vóc của những khúc sử thi hào hùng và mang vẻ đẹp lãng mạn trữ tình.

- Tác phẩm tiêu biểu: Đất nước đúng lên, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng,…

2. Tác phẩm Rừng Xà Nu

a. Hoàn cảnh sáng tác truyện ngắn Rừng Xà Nu

- Mùa hè năm 1965, đế quốc Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta. Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành muốn viết một bản “Hịch tướng sĩ” thời đánh Mĩ. Truyện ngắn Rừng xà nu ra đời như một biểu tượng cho tinh thần bất khuất kiên cường của nhân dân Tây Nguyên nói riêng và đồng bào ta nói chung.

- Truyện đăng lần đầu trên tạp chí Quân giải phóng Trung Trung Bộ (số 2,1965), sau đó được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”.

*/ Chủ đề: Thông qua câu chuyện về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô-man, tác giả ca ngợi tinh thần quật khởi của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng thời khẳng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.

b. Ý nghĩa nhan đề

- Cây xà nu, rừng xà nu gắn bó mật thiết với con người Tây Nguyên, là biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp của người dân làng Xô Man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung.

- Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được khơi nguồn từ cây xà nu, rừng xà nu.

c. Tóm tắt truyện

Sau ba năm đi lực lượng quân giải phóng, Tnú được phép về thăm làng một đêm. Bé Heng dẫn anh về làng, nó kể cho Tnú nghe những đổi thay của làng. Mọi người đón tiếp anh nồng nhiệt. Đêm ấy, cụ Mết – một già làng có uy tín kể cho dân làng nghe về cuộc đời bi tráng của Tnú. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Tnú được dân làng Xô Man cưu mang, cụ Mết dạy dỗ, anh Quyết - cán bộ CM dạy chữ. Tnú và Mai là hai thiếu niên tích cực đem lương thực vào rừng nuôi cán bộ. Tnú đi liên lạc cho anh Quyết rất dũng cảm và thông minh. Bị giặc bắt, tra tấn, nó không khai. Vượt ngục trở về, Tnú lại cùng dân làng đánh giặc. Kẻ thù tìm cách bắt Tnú, không được, chúng bắt vợ con anh đánh đến chết. Tnú xông ra nhưng không cứu được vợ con. Anh bị giặc trói và đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu. Cụ Mết cùng đám thanh niên làng Xô Man bất ngờ tấn công bọn giặc bằng giáo mác, cứu được Tnú. Sau này, dù đôi bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt, Tnú vẫn tham gia lực lượng quân giải phóng trả thù nhà nợ nước. Cuối truyện là cảnh cụ Mết và Dít – cô bí thư chi bộ xã, chính trị viên xã đội, tiễn Tnú về đơn vị. Họ đứng nhìn những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời.

3. Sơ đồ tư duy truyện ngắn Rừng Xà Nu

*

Phần II. Hướng dẫn phân tích thân bài truyện ngắn Rừng Xà Nu

II. Tìm hiểu văn bản Rừng Xà Nu

1. Hình tượng cây xà nu

Bằng nghệ thuật nhân hóa và so sánh độc đáo, tác giả xây dựng hình tượng cây xà nu, rừng xà nu sống động, đặc sắc vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng.

a. Nghĩa tả thực

a.1. Xà nu đẹp ở dáng vẻ, màu sắc, hương thơm mà những loài cây khác không có được

- Những cây xà nu “ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” mang vẻ đẹp mạnh mẽ, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống.

- Nhựa xà nu “thơm ngào ngạt”, “thơm mỡ màng” đầy quyến rũ.

- Những cánh rừng xà nu bạt ngàn chạy tới chân trời làm nên một màu xanh rất riêng của Tây Nguyên.

a.2. Xà nu đẹp ở sự gắn bó mật thiết với người Tây Nguyên

- Cây xà nu họ thông, nhựa và gỗ đều quý, mọc nhiều ở Kon Tum. Trong tác phẩm nó xuyên suốt câu chuyện, mang đặc trưng Tây Nguyên, phân biệt địa bàn này với những vùng cao khác của Tổ quốc:

+ Lửa xà nu sáng trong mỗi bếp dân làng, trong nhà ưng - nơi dân làng tụ họp.

+ Đuốc xà nu soi đường cho dân làng vào rừng tìm giáo mác đánh giặc.

+ Khói xà nu xông bảng nứa cho trẻ em học chữ.

- Cây xà nu cũng chứng kiến những sự kiện trọng đại của dân làng Xô Man:

+ Làng Xô-man nuôi giấu cán bộ

+ Làng Xô-man mài vũ khí chuẩn bị đồng khởi

+ Bọn giặc giết hại dân làng, tra tấn Trú

+ Cụ Mết lãnh đạo thanh niên nổi dậy tiêu diệt bọn thằng Dục, cứu Tnú...

- Với sự kết hợp hài hòa sắc màu, hình khối, mùi hương, ánh sáng và sức nóng, tác giả viết nhiều câu văn miêu tả rừng xà nu đậm chất Tây Nguyên, gây được ấn tượng đặc biệt trong lòng người đọc.

b. Nghĩa tượng trưng

b.1. Rừng xà nu- biểu tượng của đau thương

- Tác giả tả cánh rừng xà nu nằm trong tầm đại bác của giặc, ngày nào cũng bị bắn hai lần “hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy”. Đó là hiện thực tàn khốc của chiến tranh. Sự sống trong thế đối mặt với cái chết, sự sinh tồn đang đứng trước mối đe dọa của họa diệt vong.

- Sự đau thương được thể hiện đậm nét qua hình ảnh “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”-> Câu văn ngắn gọn, nghệ thuật nhân hóa sinh động có sức tác động mạnh mẽ đến cảm xúc của người đọc.

- Nỗi đau thương còn được tác giả miêu tả qua nhiều mức độ:

+ Có cái xót xa của các cây non, tựa như đứa trẻ thơ, “nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết”.

+ Có cái đau dữ dội của những cây xà nu như con người đang giữa tuổi thanh xuân, bỗng “bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”.

→ Hình ảnh rừng xà nu phản ánh những đau thương mà một thời người dân làng Xô-man cũng như dân tộc ta phải chịu đựng. Đó là nỗi đau của gia đình anh Xút, bà Nhan khi họ bị giặc giết hại, là nỗi đau của dân làng khi bọn giặc kéo đến làng tra khảo, ngọn roi của chúng không chừa một ai, tiếng kêu khóc dậy cả làng, là nỗi đau của mẹ con Mai khi bị bọn thằng Dục đánh bằng gậy sắt, là nỗi đau của Tnú khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ...

b.2. Rừng xà nu- biểu tượng của sức sống bất diệt, khát vọng tự do, tinh thần kiên cường, bất khuất của người Tây Nguyên

- Sức sống mãnh liệt của rừng xà nu là cảm hứng chủ yếu của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn muốn cái cuối cùng còn đọng lại trong tâm trí người đọc về rừng xà nu là ấn tượng sâu đậm về một rừng cây mà đạn đại bác của giắc không bao giờ và không thể nào hủy diệt được. Sự sống luôn mạnh hơn cái chết.

- Những câu văn viết về sức sống kì diệu của rừng xà nu thật hào hứng, sôi nổi:

+ “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”-> Câu văn đậm chất tạo hình và giàu sức gợi.

+ Những cây có tấm thân cường tráng “vết thương của chúng chóng lành”, đại bác không giết nổi chúng -> Nghệ thuật nhân hóa gợi liên tưởng đến những con người rắn rỏi như cụ Mết, Tnú, ngày đêm lãnh đạo dân làng chống giặc.

+ “Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng…” giống như dân làng Xô Man yêu tự do, luôn hướng về cách mạng.

+ Nhà văn còn để cho nhân vật cụ Mết tự hào nói với con cháu “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Cây xà nu hiên ngang bất khuất, bất chấp bom đạn kẻ thù là biểu tượng cho các thế hệ làng Xô Man, người này ngã xuống người khác vùng lên kiên cường chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do (Sau anh Xút, bà Nhan, để Tnú, Mai, rồi Dít và sau nữa là bé Heng).

- Mở đầu và kết thúc tác phẩm theo kết cấu vòng tròn: mở ra bằng hình ảnh “những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời” và kết thúc bằng “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời” để lại ấn tượng sâu sắc về những điệp khúc xanh mênh mông bất tận, khẳng định sức sống bất diệt của rừng xà nu.

- Rừng xà nu trong tác phẩm của Nguyễn Trung Thành thiết tha hướng về sự sống, ca ngợi sự sống đẹp nồng nàn, bất khuất và bất diệt. Đây là điều chủ yếu làm nên chất nhân văn sâu đậm của tác phẩm.

b.3. Rừng xà nu – biểu tượng những con người chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước

- Vượt qua mọi đau thương và sự hủy diệt của kẻ thù “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng…” -> Nghệ thuật nhân hóa thể hiện cảm động vai trò, tác dụng, giá trị của rừng xà nu với làng Xô Man.

b.4. Sự ứng chiếu giữa hình tượng cây xà nu với con người Tây Nguyên

Trong tác phẩm, nhà văn miêu tả cây xà nu nhằm hướng đến khắc họa cuộc sống, ca ngợi con người Tây Nguyên anh dũng, kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, và miêu tả từng thế hệ con người cũng nhằm gợi liên tưởng đến các lứa cây xà nu. Bởi thế, hình tượng cây xà nu và con người Tây nguyên có sự ứng chiếu với nhau:

- Nỗi đau thương của cây xà nu như nỗi đau mà con người đang chịu đựng bởi chiến tranh “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”.

- Dáng vẻ rắn rỏi của cụ Mết được nhà văn so sánh “ngực căng như một cây xà nu lớn”, vết thương của Tnú khi bị giặc tra tấn “tim thẫm như nhựa xà nu”.

- Nhìn vào các lứa cây ở rừng xà nu, những cây xà nu cô thụ rễ bám sâu vào mảnh đất quê hương vững vàng trước bom đạn như cụ Mết, một già làng sáng suốt, bản lĩnh, luôn là điểm tựa vững chắc cho dân làng. Những cây xà nu trưởng thành dù mang trên mình nhiều vết thương nhưng chóng lành, vượt lên bão đạn như Tnú, Mai, Dít. Những cây xà nu con vươn lên cứng cỏi như bé Heng, sớm tỏ ra dày dạn, nhanh nhẹn, đủ sức tiếp bước thế hệ trước.

c. Nghệ thuật miêu tả cây xà nu

- Cây xà nu được cảm nhận bằng nhiều giác quan, vừa tả thực, vừa có ý nghĩa biểu tượng, làm rõ được ấn tượng riêng của nhà văn về rừng xà nu hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, thanh nhã và rắn rỏi.

- Với nghệ thuật nhân hóa, so sánh thích hợp, đoạn văn tả rừng xà nu không chỉ mang cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi rõ nét mà còn làm dậy sắc Tây Nguyên hết sức đậm đà.

man

- Cách mở đầu và kết thúc tác phẩm độc đáo bằng hình ảnh rừng xà nu tạo nền cho câu chuyện giúp ta hiểu rằng rừng xà nu không chỉ là biểu tượng của con người làng Xô Man hẻo lánh mà còn là biểu tượng của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả dân tộc Việt Nam trong những năm đánh Mĩ hào hùng.

d. Đánh giá chung

- Với sự kết hợp bút pháp hiện thực và lãng mạn, rừng xà nu được xây dựng thành biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Nó vừa là biểu tượng của đau thương vừa là hiện thân của vẻ đẹp nồng nàn, phẩm chất kiên cường bất khuất, khát vọng tự do, sức sống bất diệt của dân làng Xô Man, của nhân dân Tây Nguyên, của cả dân tộc Việt Nam anh hùng.

2. Hình tượng con người Tây Nguyên

2.1. Nhân vật Tnú

Trong dụng ý nghệ thuật của mình, Nguyễn Trung Thành muốn nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời được kể trong một đêm. Người mà cuộc đời được kể trong một đêm ấy là nhân vật trung tâm của tác phẩm – chàng dũng sĩ mang tên Tnú.

a. Tnú – người anh hùng lí tưởng

- Nhân vật Tnú là một bước tiến mới trong sự nhận thức và biểu hiện những phẩm chất của một người anh hùng lí tưởng.

- So với A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), Đinh Núp trong “Đất nước đứng lên” (Nguyên Ngọc), Tnú có thuận lợi hơn là không phải trải qua quá trình tìm đường, nhận đường. Từ tuổi niên thiếu Tnú đã được anh Quyết - cán bộ cách mạng nằm vùng dạy dỗ, giáo dục và giác ngộ lí tưởng.

- Tnú có những phẩm chất mà con người ở thế hệ của “Vợ chồng A Phủ” hay “Đất nước đứng lên” chưa thể có.

b. Tnú – một cuộc đời bi tráng

*/ Lúc nhỏ: mồ côi cha mẹ, được dân làng Xô Man cưu mang, cụ Mết dạy dỗ nên Tnú sớm có ý

thức tự lập.

*/ Tuổi niên thiếu: Tnú rất lanh lợi, mưu trí, gan dạ:

- Tnú và Mai hăng hái vào rừng nuôi giấu cán bộ, không sợ bị giặc bắt, mặc dù chúng nó đã “treo cổ anh Xút lên cây vả đâu làng”, chặt đầu bà Nhan “cột tóc treo đầu súng”. Có khi Tnú ở lại đêm trong rừng canh gác vì sợ giặc lùng không ai dẫn cán bộ chạy. Tnú luôn nhớ lời cụ Mết dạy “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”.

- Được anh Quyết dạy chữ, Tnú học chậm hơn Mai, có lần nó lấy đá tự đập vào đầu chảy máu. Được anh Quyết dạy dỗ, nó gạt nước mắt, dẹp bỏ tự ái, học tiếp để sau này còn thay anh Quyết làm cán bộ giỏi. Sự gan góc này càng được hun đúc thành tính cách kiên cường khi Tnú trưởng thành.

- Đi liên lạc cho anh Quyết, Tnú thật dũng cảm và thông minh “Không bao giờ nó đi đường mòn. Giặc vây các ngả đường, nó leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây. Qua sông nó không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt là trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình”. Vì “Qua chỗ nước êm thằng Mĩ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”.

an

- Có lần, Tnú lọt vào ô phục kích của giặc, chỉ kịp nuốt lá thư vào bụng thì bị bắt. Giặc tra tân dã man Tnú quyết không khai, một lòng trung thành với cách mạng. Ba năm sau, vượt ngục trở về, Quyết đã hi sinh, Tnú cùng dân làng chuẩn bị chiến đấu chống giặc.

*/ Lúc trưởng thành

- Tnú có ý chí quyết tâm đánh giặc mạnh mẽ, khó khăn nào cũng hoàn thành, sẵn sàng vượt lên trên nỗi đau cá nhân và gia đình để làm cách mạng, luôn kiên cường, bất khuất trước kẻ thù:

- Từ khi vượt ngục trở về, Tnú đã là một thanh niên rắn rỏi, chững chạc, vững vàng, nòng cốt của phong trào cách mạng ở làng Xô Man. Tnú cưới Mai - cô bạn gái dịu dàng, từng sát vai trong những ngày nuôi giấu cán bộ.

- Khi cần vũ khí đánh giặc, Tnú lên núi Ngọc Linh ba ngày đêm cõng đá về cho dân làng mài vũ khí.

- Điểm then chốt trong câu chuyện về cuộc đời Tnú chỉ bắt đầu từ sự việc giặc kéo về làng, tìm diệt phong trào nổi dậy ở Xô Man. Để bắt Tnú, chúng đem vợ con anh ra tra tấn dã man bằng gậy sắt. Cả Mai và đứa con trai đầu lòng chưa đầy tháng tuổi đều gục chết dưới đòn thù.

- Sự việc diễn ra ngay trước mắt Tnú. Và anh đã không cứu nổi vợ con, dù lòng căm thù đã biến hai con mắt anh thành “hai cục lửa lớn”. Anh “nhảy xổ” vào giữa bọn lính với tiếng thét dữ dội “Đồ ăn thịt người, tau đây, Tnú đây!...”

- “Ừ Tnú không cứu sống được mẹ con Mai...”, tác giả đã để cho những lời ấy trở đi trở lại tới bốn lần, day dứt như một điệp khúc thương đau. Với tất cả những gì Tnú có, lẽ ra anh phải được hưởng hạnh phúc bên người vợ hiền dịu, bên đứa con đầu lòng đáng yêu. Vậy mà kẻ thù đã cướp đi của anh tất cả. Vợ con chết, bản thân anh bị bắt, bị trói bằng dây rừng và bị đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu.

- Ngay cả lúc bị tra tấn dã man “Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc”, “anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi” anh vẫn nhớ lời anh Quyết “Người cộng sản không thèm kêu van...”. Đó là cái gan góc kiên trung của người con trung thành với cách mạng, bất khuất trước kẻ thù, khiến chúng phải khiếp sợ. Đúng như cụ Mết đã nhận xét về Tnú “Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng tử”.

- Tnú chỉ thét lên một tiếng “Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn”. Tiếng “Giết”. Tiếng chân người đạp trên sàn nhà ưng ào ào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Mết ồ ồ “Chém! Chém hết!”. Đó là lúc dân làng Xô Man vùng dậy diệt ác ôn, cứu Tnú.

-> Tính cách và số phận của Tnú được bộc lộ chói sáng ở đoạn cao trào này, cũng là đoạn đời bi tráng của nhân vật.

- Nguyên nhân bi kịch của cuộc đời Tnú ai cũng hiểu do kẻ thù gây ra. Dù cố gắng hết sức Thú không cứu được vợ con. Dân làng Xô Man cũng không thể cứu anh nếu họ chỉ có hai bàn tay trắng. Chính vì thế cụ Mết muốn ghi tạc vào lòng các thế hệ con cháu một câu chân lí: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”

Đó cũng là tư tưởng chủ đạo trong đường lối cách mạng của Đảng: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.

* Tnú sống rất tình cảm

- Với vợ con, anh yêu thương hết mực: Không đi Kon Tum mua vải được, Tnú xé đôi tấm dồ của mình ra làm tấm choàng cho Mai địu con. Khi vợ con bị bắt, Tnú không chạy ra cứu vợ con ngay, bởi vì biết đó là âm mưu của giặc (bắt được cọp cái và cọp con tất sẽ dụ được cọp đực trở về), hơn nữa anh đâu chỉ là chồng, là cha mà còn là một cán bộ cách mạng, phải sống chết vì cách mạng. Không chạy ra nhưng anh đã phải bíu chặt lấy gốc cây, đã bút đứt hàng chục trái vả mà không hay để kìm nén tình cảm của mình. Nhưng khi đứa bé khóc thét lên thì anh không thể kìm nén nổi, tình cảm yêu thương mãnh liệt và lòng căm thù tột độ đã khiến hai con mắt anh thành hai cục lửa lớn, anh bất chấp mọi thứ, chạy ra để cứu vợ con mình.

- Với bà con dân làng, anh coi họ như người ruột thịt. Ba năm đi bộ đội giải phóng, về tới đầu làng, anh chợt hiều ra “cái mà anh nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm nay chính là tiếng chày đó, tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dít...

- Tnú có tính kỉ luật cao. Đi lực lượng quân giải phóng suốt ba năm nhớ buôn làng nhưng được phép mới về thăm quê. Và chỉ về đúng một đêm như cấp trên cho phép.

* Ở nhân vật Tnú, hình ảnh bàn tay gây được ấn tượng đậm nét. Qua bàn tay, ta thấy hiện lên cuộc đời và tính cách nhân vật.

+ Bàn tay Tnú lúc còn lành lặn là bàn tay trung thực, tình nghĩa (bàn tay luyện chữ anh Quyết dạy, bàn tay cầm đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt khi không nhớ chữ, bàn tay đặt lên bụng mình nói: Cộng sản “ở đây này”, bàn tay Mai đã từng nắm lấy mà giàn giụa nước mắt khi Tnú vượt ngục Kon Tum trở về, đôi bàn tay ôm chặt lấy mẹ con Mai khi họ bị đánh đập dã man...)

+ Bàn tay bị giặc đốt bằng nhựa xà nu như mười ngọn đuốc

+ Bàn tay sau này mỗi ngón chỉ còn hai đốt là chứng tích tội ác của kẻ thù.

+ Bàn tay thương tật vẫn cầm giáo, cầm súng đi trả thù nhà nợ nước, thể hiện ý chí giết gặc.

* Giữa Tnú và rừng xà nu có mối quan hệ mật thiết

- Hai hình tượng rừng xà nu và Tnú không tách rời mà gắn bó mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau để cùng trở nên hoàn chỉnh.

+ “Rừng xà nu” sẽ không thể trải mãi tới chân trời trong màu xanh bất diệt khi con người chưa thấm thía bài học “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” rút ra từ cuộc đời Tnú.

+ Tnú - một cuộc đời bi tráng - cầm vũ khí đứng lên không có mục đích nào khác là để giữ cho sự

sống của nhân dân, của Tổ quốc như cánh rừng xà nu kia mãi mãi sinh sôi.

c. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

- Tnú được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn, giàu chất lí tưởng, nhưng cũng có ý nghĩa điển hình, bởi số phận và con đường đi theo cách mạng của Tnú cũng là số phận và con đường cách mạng của

nhân dân Tây Nguyên.

- Tnú là nhân vật đậm chất sử thi. Tnú sống có lí tưởng, kết tinh phẩm chất tốt đẹp của nhân dân Tây Nguyên và sẵn sàng sống chết vì cộng đồng.

d. Đánh giá chung

Nhân vật Tnú là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đã trưởng thành qua gian khô, thử thách, cũng là hình ảnh điển hình cho số phận và con đường cách mạng của nhân dân Tây Nguyên. Qua Tnú, tác giả ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi tinh thần bất khuất của nhân dân Miền Nam trong quá trình đấu tranh chống Mĩ cứu nước. Với nhân vật Tnú và tác phẩm Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành tiếp tục khẳng định thành công của mình khi viết về đề tài Tây Nguyên.

2.2. Các nhân vật khác

a. Cụ Mết

- Là người quắc thước, râu dài tới ngực và còn đen bóng, mắt sáng xếch ngược, ở trần, ngực căn như một cây xà nu lớn, bàn tay nặng trịch như kìm sắt, tiếng nói ồ ồ dội vang...-> Cụ mang dán dấp những nhân vật anh hùng trong trường ca Tây Nguyên.

- Là người trầm tĩnh, sáng suốt, quyết đoán, mạnh mẽ, không bao giờ khen “Tốt! Giỏi!”, vừa ý nhất chỉ khen “Được!”.

- Hình ảnh cụ Mết với lưỡi mác dài trong tay và tiếng ồ ồ: “Chém! Chém hết!” thật oai hùng trong cái đêm căm hờn và quật khởi. Chính cụ đã phát động cuộc nổi dậy hùng tráng của dân làng Xô Man, mở ra một cục diện mới.

- Là người nhân từ, yêu thương dân làng (chia muối cho mọi người) và được mọi người yêu mến, kính trọng “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”.

- Cụ Mết luôn có ý thức dạy con cháu biết giữ truyền thống dân tộc, biết tiết kiệm, bởi “Đánh thằng Mĩ phải đánh dài”, “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”, “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”.

-> Cụ Mết là cây xà nu cổ thụ trong rừng xà nu dân làng Xô Man. Cụ tượng trưng cho lịch sử, truyền thống, là chỗ dựa vững chắc cho các thế hệ con cháu, là gạch nối giữa Đảng và đồng bào Tây Nguyên, là điển hình gương mẫu của một già làng yêu nước, yêu cách mạng, yêu buôn làng.

b. Dít

- Lúc nhỏ: nhanh nhẹn, gan góc, dũng cảm: Nó bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và đám thanh niên khi giặc lùng bắt Tnú. Bị giặc bắt, bắn uy hiếp, lúc đầu khóc thét, sau đó bình thản nhìn bọn giặc.

- Lúc trưởng thành: Có năng lực, có uy tín, cùng lúc kiêm hai nhiệm vụ: Bí thư chi bộ xã và Chính trị viên xã đội.

- Nghiêm túc trong công tác cách mạng, việc công việc tư rõ ràng.

- Tình cảm trong sáng, kín đáo.

-> Dít trưởng thành trong phong trào cách mạng, là lực lượng chủ chốt kế tục sự nghiệp thế hệ đàn anh như Tnú để lại, cùng dân làng Xô Man chiến đấu chống bọn Mĩ Diệm khát máu.

c. Bé Heng

Làm liên lạc nhanh nhẹn, giỏi việc, có ý thức cách mạng sớm.

- Bé Heng là lứa xà nu con, tràn trề sức sống đang vươn lên mạnh mẽ, tiếp nối thế hệ đi trước.

Tóm lại: Hình tượng con người Tây Nguyên được tác giả khắc họa đậm nét qua các nhân vật đại diện cho những thế hệ cách mạng mang những phẩm chất chung của cộng đồng. Ở họ nổi bật lên là phẩm chất của những người cách mạng: yêu buôn làng, yêu quê hương đất nước, căm thù giặc, một lòng trung thành với cách mạng.

Phần III. Hướng dẫn viết đoạn kết bài phân tích truyện ngắn Rừng Xà Nu

III. Tổng kết

1. Nội dung

- “Rừng xà nu” là một thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi hiện đại. Với lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh, kết cấu truyện đặc sắc, âm hưởng anh hùng ca, tác phẩm đã tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, của con người và của truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

- Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cành rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác.

Xem thêm: Mua Online Áo Khoác Nam Siêu Ấm Đẹp Chất Lượng, Giá Tốt 2021

2. Nghệ thuật

- Tô đậm không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên

- Xây dựng thành công hai tuyến nhân vật đối lập gay gắt

- Khắc họa thành công hình tượng nghệ thuật (hình tượng cây xà nu, con người Tây Nguyên)

- Kết cấu truyện lồng truyện độc đáo, nghệ thuật trần thuật sinh động.

- Truyện kết hợp cảm hứng lãng mạn với tính sử thi (đề tài, hình tượng nghệ thuật, cảm hứng, giọng